Khi trả lãi cho ngân hàng hoặc công ty mẹ ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, bên vay là người khấu trừ và nộp thay thuế nhà thầu trên tiền lãi. Tiền lãi cho vay thuộc nhóm dịch vụ tài chính không chịu thuế giá trị gia tăng, nên phần thuế nhà thầu phải nộp chủ yếu là thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ trên tiền lãi; tỷ lệ cụ thể tra ở văn bản hướng dẫn thuế nhà thầu hiện hành, và có thể được giảm nếu áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Về phía chi phí, lãi vay nước ngoài được trừ khi qua đủ các lớp điều kiện: điều kiện chung của chi phí lãi vay (vốn điều lệ đã góp đủ, hợp đồng, chứng từ), lớp giao dịch liên kết nếu người cho vay là công ty mẹ hoặc bên liên quan, và thủ tục ngoại hối với khoản vay thuộc diện phải đăng ký. Bài này đi theo thứ tự thời gian để không sót lớp nào.
Trước khi ký: ba câu hỏi phải trả lời
- Bên cho vay có phải bên liên kết không? Công ty mẹ, công ty chị em, cổ đông lớn, hay một ngân hàng độc lập. Câu trả lời quyết định có áp mức khống chế lãi vay theo quy định giao dịch liên kết hay không.
- Hợp đồng ghi lãi “thực nhận” hay “trước thuế”? Nếu bên cho vay đòi nhận đủ số lãi, không bị trừ thuế, thì bên vay phải quy đổi ngược để tính thuế và phần thuế gánh thay có thể bị xét riêng khi tính chi phí.
- Khoản vay có thuộc diện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước không? Khoản vay nước ngoài theo thời hạn và hình thức nhất định phải đăng ký theo quy định quản lý ngoại hối. Làm sai thủ tục ngoại hối thì hồ sơ lãi vay yếu đi ngay từ đầu.
Ba câu hỏi này nên có câu trả lời bằng văn bản trước khi ký, không phải khi kỳ trả lãi đầu tiên tới. Nếu bên cho vay soạn hợp đồng theo mẫu của họ, điều khoản thuế thường mặc định bên vay gánh mọi khoản thuế phát sinh tại Việt Nam; đọc kỹ điều khoản này và tính trước chi phí thật của khoản vay sau thuế.
Thuế nhà thầu trên tiền lãi: tính và nộp thế nào
Mỗi lần trả lãi, bên vay làm theo trình tự:
- Xác định số lãi phải trả theo hợp đồng cho kỳ đó.
- Tính thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu bằng tỷ lệ quy định trên tiền lãi (hoặc trên tiền lãi đã quy đổi nếu hợp đồng ghi lãi thực nhận).
- Chuyển cho bên cho vay số lãi sau khi trừ thuế, trừ khi hợp đồng quy định bên vay gánh thuế.
- Kê khai và nộp thuế nhà thầu theo kỳ quy định, bằng tờ khai thuế nhà thầu trên tài khoản thuế điện tử.
- Gửi cho bên cho vay chứng từ nộp thuế để họ dùng khi quyết toán ở nước họ.
Nhầm lẫn hay gặp: coi tiền lãi vay như dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và nộp thêm phần thuế này. Cho vay là dịch vụ tài chính không chịu thuế giá trị gia tăng; nộp thừa rồi xin lại mất công hơn nhiều so với tính đúng từ đầu.
Cách tách thành phần và quy đổi giá gồm thuế được giải thích thêm ở phần tỷ lệ thuế nhà thầu trên Thuế Suất.
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: giảm thuế trên tiền lãi
Nhiều hiệp định Việt Nam ký với các nước có điều khoản về tiền lãi, cho phép nước nguồn (Việt Nam) đánh thuế ở mức không vượt một tỷ lệ nhất định, có khi thấp hơn tỷ lệ thuế nhà thầu trong nước; một số khoản vay từ tổ chức tài chính của chính phủ nước kia có thể được miễn theo hiệp định.
Để áp dụng, thông thường cần:
- Giấy chứng nhận cư trú của bên cho vay do cơ quan thuế nước họ cấp, cho đúng năm trả lãi.
- Bên cho vay là đối tượng thụ hưởng thực sự của tiền lãi, không phải công ty trung gian đứng tên hộ.
- Hồ sơ thông báo miễn, giảm thuế theo hiệp định nộp cho cơ quan thuế theo quy định quản lý thuế hiện hành (Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Thông tư 89/2026/TT-BTC thay bộ văn bản cũ từ 1/7/2026).
Không tự áp mức thấp theo hiệp định khi chưa có giấy chứng nhận cư trú. Bị bác thì phần thuế thiếu cộng tiền chậm nộp do bên vay gánh, vì bên vay là người khấu trừ.
Vay công ty mẹ: lớp giao dịch liên kết
Khi người cho vay là bên liên kết, ngoài các điều kiện chung còn hai việc:
- Lãi suất phải theo giá thị trường: có căn cứ so sánh với lãi suất mà bên độc lập áp dụng cho khoản vay tương tự về đồng tiền, thời hạn, tài sản bảo đảm.
- Tổng chi phí lãi vay bị khống chế theo một tỷ lệ trên chỉ tiêu lợi nhuận quy định trong văn bản về quản lý thuế giao dịch liên kết. Phần vượt không được trừ trong năm, có thể được chuyển sang kỳ sau theo điều kiện.
Từ 1/7/2026, quy định về giao dịch liên kết là Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Tỷ lệ khống chế, cách tính chỉ tiêu lợi nhuận, các trường hợp loại trừ và mẫu kê khai đọc trực tiếp ở văn bản này. Doanh nghiệp có vốn nước ngoài vay công ty mẹ là nhóm hay vướng mức khống chế nhất, nhất là trong những năm đầu lợi nhuận thấp.
Chênh lệch tỷ giá và phí ngân hàng
Vay bằng ngoại tệ kéo theo hai khoản thường bị gộp nhầm với lãi vay:
- Chênh lệch tỷ giá khi trả gốc, trả lãi và khi đánh giá lại số dư cuối kỳ. Đây là khoản riêng, có quy định riêng về ghi nhận và tính vào thu nhập chịu thuế; không cộng vào lãi vay khi tính mức khống chế.
- Phí thu xếp khoản vay, phí cam kết, phí ngân hàng đại lý: tuỳ bản chất có thể là chi phí đi vay hoặc phí dịch vụ; nếu trả cho bên nước ngoài thì cũng phải xét thuế nhà thầu như tiền lãi hoặc như dịch vụ.
Bảng theo dõi khoản vay nên có cột riêng cho từng loại: gốc, lãi, phí, chênh lệch tỷ giá, thuế nhà thầu đã khấu trừ. Cuối năm, số liệu từng cột dùng cho từng phụ lục quyết toán khác nhau.
Ví dụ giả định: một kỳ trả lãi
Giả sử một công ty vay công ty mẹ ở nước ngoài 1 triệu đô la Mỹ, lãi trả theo quý. Kỳ này tiền lãi theo hợp đồng là 15.000 đô la, hợp đồng ghi lãi trước thuế. Kế toán làm:
- Tính thuế nhà thầu trên 15.000 đô la theo tỷ lệ áp dụng (hoặc tỷ lệ theo hiệp định nếu đã đủ hồ sơ), quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá quy định.
- Chuyển cho công ty mẹ số lãi đã trừ thuế; nộp phần thuế đã khấu trừ vào ngân sách.
- Ghi 15.000 đô la (quy đổi) vào chi phí lãi vay của kỳ.
- Cập nhật bảng theo dõi để cuối năm tính mức khống chế lãi vay liên kết.
Nếu hợp đồng ghi lãi thực nhận 15.000 đô la, số lãi trước thuế phải quy đổi ngược lên, và cả phần thuế gánh thay cũng cần xét cách ghi nhận khi quyết toán.
Tự kiểm tra ở đâu
- Tài khoản thuế điện tử: tờ khai thuế nhà thầu từng kỳ trả lãi, chứng từ nộp thuế; phụ lục giao dịch liên kết của năm trước.
- Ngân hàng nơi mở tài khoản vay, trả nợ nước ngoài: xác nhận đăng ký khoản vay, lịch rút vốn và trả nợ khớp với thực tế.
- Hồ sơ hiệp định: giấy chứng nhận cư trú của bên cho vay còn đúng năm chưa.
- Cơ quan thuế quản lý: hỏi bằng văn bản khi hợp đồng vay có điều khoản lạ (lãi chia theo lợi nhuận, lãi có thể chuyển thành vốn góp).
Câu hỏi thường gặp
Tiền lãi trả cho ngân hàng nước ngoài có chịu thuế giá trị gia tăng không?
Cho vay vốn là dịch vụ tài chính thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng. Phần thuế nhà thầu trên tiền lãi chủ yếu là thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ.
Trả lãi rồi mới nhớ ra chưa khấu trừ thuế nhà thầu thì sao?
Bên vay vẫn phải kê khai, nộp phần thuế lẽ ra đã khấu trừ, cộng tiền chậm nộp. Có thể thoả thuận để bên cho vay hoàn lại khoản tương ứng, nhưng nghĩa vụ với cơ quan thuế thuộc về bên vay.
Vay công ty mẹ không tính lãi có được không?
Về thuế nhà thầu thì không có tiền lãi để khấu trừ. Nhưng khoản vay giữa bên liên kết không lãi có thể được xem xét theo nguyên tắc giá thị trường, nhất là với bên cho vay; nên hỏi cơ quan thuế và đọc quy định giao dịch liên kết.
Lãi vay bị khống chế có được chuyển sang năm sau không?
Theo quy định giao dịch liên kết, phần chi phí lãi vay vượt mức khống chế có thể được chuyển sang các kỳ sau với điều kiện và thời hạn nhất định. Đọc Nghị định 255/2026/NĐ-CP để áp dụng cho kỳ hiện tại.
Giấy chứng nhận cư trú cần hợp pháp hoá lãnh sự không?
Yêu cầu về hình thức giấy tờ nước ngoài trong hồ sơ hiệp định theo quy định quản lý thuế hiện hành. Hỏi cơ quan thuế quản lý trước khi xin giấy, để tránh phải xin lại.
Trả nợ gốc cho bên nước ngoài có phải khấu trừ thuế không?
Không. Thuế nhà thầu đánh trên thu nhập của bên cho vay, tức tiền lãi và các khoản phí có tính chất thu nhập; tiền gốc là hoàn trả khoản vay. Tách rõ gốc và lãi trên lệnh chuyển tiền và bảng theo dõi để ngân hàng và cơ quan thuế không hiểu nhầm.
Khoản vay ngắn hạn dưới một năm có phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước không?
Việc đăng ký phụ thuộc thời hạn và điều kiện cụ thể theo quy định quản lý ngoại hối, có trường hợp khoản ngắn hạn gia hạn thành dài hạn cũng phải đăng ký. Hỏi ngân hàng phục vụ khoản vay trước khi rút vốn.