Lương khoán sản phẩm và lương thời gian đều được tính vào chi phí được trừ khi có hợp đồng lao động, quy chế lương ghi rõ cách tính, số liệu làm căn cứ tính (sản lượng hoặc ngày công) và chứng từ chi trả. Khác nhau ở chỗ căn cứ tính: lương thời gian dựa vào bảng chấm công, lương sản phẩm dựa vào phiếu sản lượng và đơn giá, mà sản lượng đó phải khớp với số thành phẩm nhập kho.
Ở xưởng nhỏ, chỗ hay bị hỏi nhất là tổng lương sản phẩm của cả xưởng tính ra số sản phẩm nhiều hơn số đã nhập kho, hoặc đơn giá thay đổi mỗi tháng mà không có văn bản. Bài này so sánh hai cách trả bằng ví dụ số giả định, rồi nói về hồ sơ và những điểm cần kiểm.
Hai cách trả, hai căn cứ tính
| Tiêu chí | Lương thời gian | Lương khoán sản phẩm |
|---|---|---|
| Căn cứ tính | Ngày công, giờ công | Số sản phẩm, công đoạn đạt chất lượng |
| Chứng từ gốc | Bảng chấm công | Phiếu báo sản lượng theo người, theo công đoạn |
| Đối chiếu | Với lịch làm việc, số ngày mở xưởng | Với số thành phẩm nhập kho, phiếu kiểm hàng |
| Phù hợp | Công việc khó đo, như bảo trì, kho, văn phòng | Công việc lặp lại đo được, như may công đoạn, gia công chi tiết |
Nhiều xưởng dùng cả hai: một phần lương cơ bản theo thời gian, cộng phần sản phẩm. Cách kết hợp này ổn nếu quy chế ghi rõ từng phần và bảng lương tách hai cột.
Chọn cách nào nên dựa vào tính chất công việc chứ không dựa vào chuyện “cách nào dễ trình bày với thuế hơn”. Công đoạn đo đếm được mà trả theo ngày thì khó khuyến khích năng suất; công việc không đo được mà trả theo sản phẩm thì phải bịa ra sản lượng. Cả hai đều làm hồ sơ lương yếu đi. Người làm kho, bảo trì máy, lái xe giao hàng của xưởng gần như luôn hợp với lương thời gian, còn thợ đứng máy may, máy tiện, máy dập hợp với lương sản phẩm hoặc kết hợp.
Lương sản phẩm: đơn giá phải có trước khi làm
Bảng đơn giá lương là văn bản quan trọng nhất của lương sản phẩm. Nên có:
- Danh mục công đoạn hoặc sản phẩm, đơn vị tính, đơn giá.
- Tiêu chuẩn chất lượng để được tính (hàng lỗi phải sửa không tính, hoặc tính giảm).
- Ngày áp dụng, người ký duyệt.
- Mỗi khi nhận mã hàng mới có công đoạn khác, bổ sung đơn giá bằng văn bản trước khi công nhân làm.
Đơn giá lập sau khi đã biết tổng quỹ lương muốn trả, rồi chia ngược cho sản lượng, là dấu hiệu dễ nhận ra khi kiểm tra: đơn giá lẻ bất thường, thay đổi từng tháng mà không có lý do.
Với xưởng nhận gia công, đơn giá lương nên có quan hệ hợp lý với giá gia công ký với khách. Không có tỷ lệ bắt buộc, nhưng nếu tiền lương một công đoạn chiếm gần hết giá gia công của cả sản phẩm thì phải giải thích được. Lưu kèm bảng tính giá thành khi nhận đơn hàng: bảng này cho thấy đơn giá lương được xác định từ đâu.
Phiếu sản lượng phải khớp với kho
Mỗi công nhân hoặc tổ có phiếu báo sản lượng hằng ngày, tổ trưởng xác nhận, bộ phận kiểm hàng ký. Cuối tháng:
- Cộng sản lượng từng công đoạn theo phiếu.
- So với số thành phẩm nhập kho và bán thành phẩm dở dang cuối tháng.
- Giải thích chênh lệch: hàng lỗi phải làm lại, hàng làm mẫu, hàng chuyển sang tháng sau.
Nếu tổng lương sản phẩm tính cho 12.000 sản phẩm hoàn chỉnh mà kho chỉ nhập 10.000, phần chênh cần lý do có giấy tờ. Không có thì phần lương tương ứng dễ bị xem là không có căn cứ.
Ở xưởng cơ khí, đơn vị sản lượng thường là chi tiết hoặc lô gia công. Chi tiết hỏng phải làm lại được tính lương một lần hay hai lần là câu hỏi quy chế phải trả lời trước. Chi tiết đã hỏng và phải huỷ thì cần biên bản huỷ, vì nó liên quan cả tới chi phí nguyên vật liệu chứ không chỉ tiền lương.
Ví dụ giả định: một tổ may, hai cách trả
Giả sử một tổ may 10 người trong tháng làm 26 ngày, nhập kho 9.000 áo, đơn hàng gia công có giá gia công 45.000 đồng/áo.
| Khoản | Lương thời gian 320.000 đồng/ngày | Lương sản phẩm 9.500 đồng/áo hoàn chỉnh |
|---|---|---|
| Quỹ lương tổ | 10 × 26 × 320.000 = 83,2 triệu | 9.000 × 9.500 = 85,5 triệu |
| Căn cứ | Bảng chấm công 26 ngày | Phiếu sản lượng 9.000 áo, khớp phiếu nhập kho |
| Tháng ít đơn (5.000 áo, vẫn 26 ngày) | Vẫn 83,2 triệu | 47,5 triệu, cộng phần lương tối thiểu theo quy định nếu thấp hơn |
| Rủi ro hồ sơ | Chấm công ngày không làm việc thật | Sản lượng tính lương vượt sản lượng nhập kho |
Lương sản phẩm gắn chi phí với doanh thu gia công nên tỷ lệ tiền lương trên doanh thu ổn định; lương thời gian làm tỷ lệ này dao động mạnh khi đơn hàng thay đổi. Dù chọn cách nào, tiền lương trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu theo quy định cho thời gian làm việc bình thường, kể cả khi trả theo sản phẩm.
Làm thêm giờ để kịp đơn hàng
Xưởng nhỏ thường tăng ca khi dồn đơn. Với lương thời gian, giờ làm thêm tính theo bảng chấm công giờ làm thêm và cách tính của Bộ luật Lao động. Với lương sản phẩm, sản phẩm làm trong giờ làm thêm được trả đơn giá cao hơn theo quy chế. Hồ sơ cần có:
- Văn bản thông báo tăng ca, có sự đồng ý của người lao động.
- Bảng chấm công giờ làm thêm, hoặc phiếu sản lượng tách phần làm trong giờ làm thêm.
- Bảng lương tách cột tiền làm thêm giờ.
- Với lương sản phẩm, ca làm thêm có tổ trưởng xác nhận riêng để không lẫn với sản lượng trong giờ.
Phần tiền làm thêm giờ trả cao hơn so với làm trong giờ bình thường được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định lâu nay, nên tách riêng để khấu trừ thuế đúng. Tổng giờ làm thêm có giới hạn theo luật lao động; bảng chấm công ghi vượt giới hạn là tín hiệu sai sót hoặc vi phạm.
Những lỗi hay gặp ở xưởng nhỏ
- Đơn giá chỉ nói miệng, không có bảng đơn giá ký duyệt.
- Tổ trưởng nhận lương cả tổ rồi tự chia, bảng lương chỉ có tên tổ trưởng.
- Phiếu sản lượng viết lại cuối tháng cho khớp bảng lương.
- Công nhân không có hợp đồng vì làm theo mùa đơn hàng.
- Không đóng bảo hiểm cho người thuộc diện bắt buộc, dẫn tới rủi ro riêng về bảo hiểm và làm hồ sơ lương kém tin cậy.
Khi bị kiểm tra, người kiểm tra thường chọn vài tháng có quỹ lương cao bất thường rồi đi ngược từ bảng lương về phiếu sản lượng, về phiếu nhập kho, về hoá đơn giao hàng cho khách. Chỉ cần một mắt xích đứt, cả tháng đó bị đặt câu hỏi. Vì vậy việc quan trọng nhất không phải lập thêm giấy tờ mà là giữ đúng bốn loại giấy tờ trên, cùng một mã hàng, cùng một kỳ, lưu cạnh nhau.
Tự kiểm tra ở đâu
Hằng tháng, so tổng sản lượng tính lương với phiếu nhập kho thành phẩm và hoá đơn gia công đầu ra trên cổng hoá đơn điện tử: sản lượng làm ra, nhập kho và giao khách phải kể được cùng một câu chuyện. Đối chiếu bảng lương với sao kê chuyển lương và tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trên tài khoản thuế điện tử. Mức lương tối thiểu vùng, giới hạn giờ làm thêm nên tra văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm trả lương. Nếu có điểm chưa rõ về cách ghi chi phí lương sản phẩm, mang bảng đơn giá và bảng lương mẫu tới hỏi cơ quan thuế quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Có được trả lương sản phẩm cho cả tổ rồi tổ tự chia không?
Có thể khoán theo tổ, nhưng bảng lương vẫn phải thể hiện số tiền từng người nhận và có xác nhận của từng người. Tiền chuyển vào tài khoản từng người thay vì tài khoản tổ trưởng.
Hàng lỗi bị khách trả lại, có trừ lương công nhân không?
Tuỳ quy chế và phải phù hợp luật lao động về khấu trừ tiền lương. Về thuế, chi phí lương là số thực trả theo quy chế; khoản trừ lương có căn cứ thì ghi giảm theo bảng lương.
Đơn giá lương thay đổi giữa tháng thì làm sao?
Lập văn bản điều chỉnh có ngày áp dụng. Phiếu sản lượng trước ngày đó tính theo đơn giá cũ, sau ngày đó tính theo đơn giá mới.
Lương sản phẩm có phải đóng bảo hiểm không?
Người lao động có hợp đồng thuộc diện bắt buộc thì đóng bảo hiểm trên mức tiền lương theo quy định, không phân biệt trả theo thời gian hay sản phẩm. Mức lương đóng bảo hiểm ghi trong hợp đồng.
Xưởng thuê người làm hàng tại nhà theo sản phẩm thì sao?
Người nhận gia công tại nhà, không chịu quản lý giờ giấc, thường là quan hệ gia công hoặc dịch vụ. Cần hợp đồng, phiếu giao nhận hàng, và khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nếu thuộc diện khi trả tiền.
Công nhân mới vào học việc có trả lương sản phẩm không?
Thời gian học nghề, thử việc có quy định riêng về tiền lương trong luật lao động. Quy chế nên ghi rõ cách trả cho người mới: theo thời gian trong giai đoạn đầu, chuyển sang sản phẩm khi đạt tay nghề, có văn bản xác nhận thời điểm chuyển.
Tháng không có đơn hàng, công nhân nghỉ thì trả lương thế nào?
Ngừng việc vì lý do của người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo luật lao động. Ghi rõ trong bảng lương là tiền lương ngừng việc, có thông báo ngừng việc kèm theo.