Khi doanh nghiệp Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú và chưa tự đăng ký, kê khai thuế tại Việt Nam — quảng cáo trực tuyến, phần mềm thuê bao, máy chủ đám mây, tư vấn từ xa — thì bên Việt Nam thường là người khấu trừ và nộp thay thuế nhà thầu, gồm thuế giá trị gia tăng (nếu dịch vụ thuộc diện chịu thuế) và thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỉ lệ trên doanh thu. Làm đủ phần này thì khoản chi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, và phần thuế giá trị gia tăng đã nộp thay được khấu trừ đầu vào.
Việc hay bị bỏ quên vì thanh toán bằng thẻ chỉ mất vài giây và không có ai nhắc. Đến khi kiểm tra, cơ quan thuế đối chiếu dòng tiền ra nước ngoài trên sao kê và truy thu thuế nhà thầu cho cả thời gian trước, cộng tiền chậm nộp. Với công ty công nghệ hay công ty bán hàng trực tuyến, đây thường là khoản truy thu lớn nhất. Trường hợp nhà cung cấp đã tự đăng ký thuế tại Việt Nam được xử lý khác, xem bài riêng trong cùng chuyên mục.
Thuế nhà thầu gồm những gì
“Thuế nhà thầu” không phải một sắc thuế riêng mà là cách gọi chung cho thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của tổ chức nước ngoài phát sinh tại Việt Nam, khi tổ chức đó không đăng ký nộp thuế theo cách thông thường.
- Phần thuế giá trị gia tăng: tính trên doanh thu tính thuế nhân tỉ lệ theo loại dịch vụ. Dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng (ví dụ một số sản phẩm phần mềm) thì không có phần này.
- Phần thuế thu nhập doanh nghiệp: tính trên doanh thu tính thuế nhân tỉ lệ theo loại thu nhập — dịch vụ, tiền bản quyền, lãi vay, cho thuê… mỗi loại một tỉ lệ.
Tỉ lệ cụ thể cho từng loại dịch vụ tra ở văn bản hướng dẫn thuế nhà thầu hiện hành; có thể xem bảng tổng hợp ở chuyên mục tỉ lệ thuế nhà thầu của Thuế Suất. Bài này không nhắc lại con số để tránh lệch khi văn bản thay đổi.
Phân loại đúng dịch vụ trước khi tính
Sai lầm tốn kém nhất là xếp nhầm loại dịch vụ, vì mỗi loại một tỉ lệ và có loại chịu, có loại không chịu thuế giá trị gia tăng.
| Khoản mua | Câu hỏi cần trả lời |
|---|---|
| Quảng cáo trực tuyến | Là dịch vụ quảng cáo; thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu |
| Phần mềm thuê bao | Là bán sản phẩm phần mềm, cấp quyền sử dụng (bản quyền), hay dịch vụ vận hành kèm theo? Mỗi bản chất xử lý khác |
| Máy chủ, lưu trữ đám mây | Là dịch vụ; xem có kèm cấp quyền phần mềm không |
| Tư vấn, thiết kế từ xa | Là dịch vụ; xem dịch vụ có được thực hiện và tiêu dùng tại Việt Nam không |
| Tiền bản quyền hình ảnh, âm nhạc | Là tiền bản quyền, tỉ lệ thu nhập doanh nghiệp riêng |
Đọc điều khoản dịch vụ của nhà cung cấp để xác định bản chất. Khi còn phân vân giữa hai loại, nên hỏi cơ quan thuế quản lý bằng văn bản trước khi khai cho cả năm.
Hợp đồng giá gồm thuế hay không gồm thuế
Hầu hết nhà cung cấp nước ngoài báo giá không gồm thuế Việt Nam: doanh nghiệp trả đủ số tiền trên hoá đơn thương mại, nhà cung cấp không chịu khấu trừ. Khi đó bên Việt Nam phải tự chịu phần thuế nhà thầu, và doanh thu tính thuế phải được quy đổi ngược từ số tiền thực trả thành doanh thu đã gồm thuế theo công thức ở văn bản hướng dẫn.
Ví dụ giả định: doanh nghiệp trả 100 triệu đồng tiền quảng cáo, nhà cung cấp không chịu khấu trừ. Doanh thu tính thuế sẽ cao hơn 100 triệu đồng một chút sau khi quy đổi, và thuế nhà thầu tính trên số đã quy đổi. Tính trực tiếp tỉ lệ trên 100 triệu đồng là tính thiếu.
Phần thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu mà bên Việt Nam chịu thay theo thoả thuận giá không gồm thuế thường được xem là một phần chi phí mua dịch vụ và được trừ khi có chứng từ nộp thuế; kiểm tra lại cách áp dụng ở văn bản hướng dẫn thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
Kê khai, nộp và khấu trừ phần thuế GTGT nộp thay
Bên Việt Nam khai thuế nhà thầu theo mẫu, kỳ khai và thời hạn quy định trong văn bản hướng dẫn Luật Quản lý thuế đang hiệu lực. Từ 1/7/2026, bộ văn bản hướng dẫn quản lý thuế đã được thay mới, nên kiểm tra lại mẫu và kỳ khai trước khi làm.
Phần thuế giá trị gia tăng đã nộp thay cho nhà cung cấp nước ngoài là căn cứ để bên Việt Nam khấu trừ đầu vào: Luật 48/2024/QH15 cho phép dùng chứng từ nộp thuế thay làm căn cứ khấu trừ, khi dịch vụ đó phục vụ hoạt động chịu thuế. Như vậy nếu làm đúng, phần thuế giá trị gia tăng nhà thầu gần như chỉ là dòng tiền đi rồi quay lại qua khấu trừ; cái thật sự tốn là phần thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu.
Không khai thuế nhà thầu thì mất cả hai: không có chứng từ để khấu trừ thuế giá trị gia tăng, và bị truy thu cả hai phần thuế khi kiểm tra.
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Việt Nam có hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhiều nước. Một số loại thu nhập của nhà cung cấp thuộc nước có hiệp định có thể được miễn hoặc giảm phần thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu, nếu đáp ứng điều kiện và làm thủ tục thông báo theo quy định. Phần thuế giá trị gia tăng không thuộc phạm vi hiệp định.
Cần phân biệt hai việc: hiệp định quyết định nước nào được đánh thuế và đánh tới mức nào, còn thủ tục ở Việt Nam quyết định bên Việt Nam có được áp dụng ưu đãi đó khi khấu trừ hay không. Không đủ thủ tục thì bên Việt Nam vẫn phải khấu trừ theo tỉ lệ thông thường, dù về lý thuyết nhà cung cấp được hưởng hiệp định.
Thủ tục này cần giấy tờ từ phía nhà cung cấp, như xác nhận cư trú do cơ quan thuế nước họ cấp. Với các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến lớn, việc xin giấy tờ này rất khó, nên đa số doanh nghiệp nhỏ vẫn khai theo tỉ lệ thông thường.
Hồ sơ để khoản chi được trừ, và tự kiểm tra ở đâu
Mỗi nhà cung cấp nước ngoài nên có một thư mục gồm năm nhóm tài liệu:
- Hoá đơn thương mại hoặc biên nhận thanh toán do nhà cung cấp phát hành, ghi tên doanh nghiệp.
- Hợp đồng hoặc điều khoản dịch vụ đã chấp nhận, bản lưu tại thời điểm mua.
- Chứng từ thanh toán: sao kê thẻ doanh nghiệp hoặc điện chuyển tiền.
- Tài liệu chứng minh dùng cho kinh doanh: tài khoản dịch vụ gắn với nhân viên, bộ phận nào; báo cáo chiến dịch quảng cáo; mục đích sử dụng.
- Hồ sơ thuế nhà thầu: tờ khai, chứng từ nộp thuế.
Để rà: lấy sao kê thẻ và tài khoản ngân hàng 12 tháng gần nhất, lọc mọi giao dịch ngoại tệ hoặc giao dịch với đơn vị chấp nhận thẻ ở nước ngoài, lập danh sách nhà cung cấp. Đối chiếu với tài khoản thuế điện tử xem đã khai thuế nhà thầu cho khoản nào. Tra danh sách nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký thuế trên cổng thông tin của cơ quan thuế để tách nhóm đã tự kê khai.
Câu hỏi thường gặp
Trả bằng thẻ tín dụng thì có phải nộp thuế nhà thầu không?
Có. Hình thức thanh toán không làm thay đổi nghĩa vụ thuế. Nếu nhà cung cấp chưa tự đăng ký kê khai tại Việt Nam, bên Việt Nam vẫn có nghĩa vụ khấu trừ, nộp thay theo quy định.
Số tiền nhỏ mỗi tháng có cần khai không?
Nghĩa vụ không phụ thuộc số tiền mỗi lần. Khoản nhỏ lặp lại hằng tháng trong nhiều năm cộng lại thành số đáng kể khi bị truy thu. Nên gom danh sách và khai đều theo kỳ quy định.
Không khai thuế nhà thầu thì chi phí có bị loại không?
Có rủi ro bị loại, và bị truy thu thuế nhà thầu cộng tiền chậm nộp. Khi phát hiện sớm, doanh nghiệp nên khai bổ sung cho các kỳ trước khi có quyết định kiểm tra.
Phần mềm mua đứt có chịu thuế nhà thầu không?
Tuỳ bản chất. Mua sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, cấp quyền sử dụng phần mềm hay dịch vụ kèm theo có cách xử lý khác nhau về cả thuế giá trị gia tăng lẫn tỉ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp. Đọc kỹ điều khoản và hỏi cơ quan thuế nếu cần.
Thuế nhà thầu phần thu nhập doanh nghiệp có được khấu trừ như thuế GTGT không?
Không. Chỉ phần thuế giá trị gia tăng nộp thay mới là căn cứ khấu trừ đầu vào. Phần thuế thu nhập doanh nghiệp nhà thầu, nếu bên Việt Nam chịu thay theo thoả thuận, được xem xét tính vào chi phí.
Công ty mới thành lập, chưa có doanh thu có phải khai thuế nhà thầu không?
Có. Nghĩa vụ khấu trừ, nộp thay phát sinh khi trả tiền cho nhà cung cấp nước ngoài, không phụ thuộc bên mua đã có doanh thu hay chưa. Phần thuế giá trị gia tăng nộp thay vẫn được khấu trừ đầu vào và chuyển kỳ sau nếu chưa có thuế đầu ra.
Nhà cung cấp gửi hoá đơn có dòng thuế thì có phải khai nữa không?
Dòng thuế trên hoá đơn thương mại của nhà cung cấp nước ngoài không phải là hoá đơn giá trị gia tăng Việt Nam. Cần xác định nhà cung cấp đã đăng ký thuế tại Việt Nam chưa để biết cách xử lý; nếu chưa, nghĩa vụ nộp thay vẫn còn.