Tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, với tổng mức trả từ 2 triệu đồng trở lên mỗi lần, phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trên thu nhập trước khi trả. Người nhận chỉ có duy nhất thu nhập thuộc diện này và ước tính cả năm chưa đến mức phải nộp thuế thì được làm bản cam kết theo mẫu tại thông tư hiện hành để tạm thời chưa bị khấu trừ.
Nghe đơn giản, nhưng đây là chỗ doanh nghiệp hay bị truy thu thay cho người khác: tiền đã trả đủ cho cộng tác viên, không đòi lại được, mà cơ quan thuế vẫn yêu cầu nộp phần lẽ ra phải khấu trừ, cộng tiền chậm nộp. Bài này đi qua phạm vi áp dụng, điều kiện cam kết, cách khai và những lỗi hay gặp. Từ 1/7/2026, bộ văn bản hướng dẫn thuế thu nhập cá nhân mới (Nghị định 253/2026/NĐ-CP, Thông tư 87/2026/TT-BTC) đã có hiệu lực; khi áp dụng nên đối chiếu thêm.
Những khoản trả nào thuộc diện khấu trừ 10%
Các khoản thường gặp:
- Tiền công cho người làm thời vụ, làm theo việc: bốc xếp, phục vụ sự kiện, khảo sát.
- Thù lao cộng tác viên: viết bài, dịch thuật, thiết kế, chụp ảnh, lập trình theo dự án.
- Tiền giảng dạy, thuyết trình, chấm bài cho người ngoài công ty.
- Tiền hoa hồng môi giới cho cá nhân không có đăng ký kinh doanh.
- Tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động dưới 3 tháng.
Không thuộc diện này: người ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên (khấu trừ theo biểu luỹ tiến sau khi trừ gia cảnh), hộ và cá nhân kinh doanh có đăng ký tự khai thuế và xuất hoá đơn, cá nhân không cư trú (có cách khấu trừ riêng). Mua hàng của cá nhân — đồ dùng, nông sản — cũng không phải trả thu nhập từ tiền công.
“Mỗi lần” và ngưỡng 2 triệu đồng
Ngưỡng 2 triệu đồng tính trên tổng mức trả thu nhập mỗi lần, trước khi trừ thuế. Trả 2 triệu đồng tròn là đã thuộc diện khấu trừ.
Hai tình huống cần cẩn thận:
- Một công việc, nhiều đợt trả. Hợp đồng 6 triệu đồng chia ba đợt 2 triệu đồng: mỗi đợt đều từ 2 triệu đồng nên đều khấu trừ.
- Tách hợp đồng để né ngưỡng. Chia một việc 6 triệu đồng thành bốn hợp đồng 1,5 triệu đồng cùng tuần, cùng người là cách làm dễ bị xem là né nghĩa vụ. Cơ quan thuế nhìn vào công việc thực tế, không nhìn số tờ hợp đồng.
Khoản dưới 2 triệu đồng mỗi lần không phải khấu trừ tại thời điểm trả, nhưng vẫn là thu nhập chịu thuế của người nhận và vẫn được tổ chức tổng hợp khi quyết toán.
Bản cam kết thu nhập thấp: ai được làm
Bản cam kết (thường gọi tắt theo số mẫu là “cam kết 08”) cho phép tổ chức tạm thời chưa khấu trừ 10%. Người làm cam kết phải thoả cả hai điều kiện:
- Trong năm chỉ có duy nhất thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% — không có lương ở nơi khác, không có thu nhập kinh doanh.
- Ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế.
Từ kỳ tính thuế 2026, giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 15,5 triệu đồng/tháng, tức 186 triệu đồng/năm; mỗi người phụ thuộc được đăng ký là 6,2 triệu đồng/tháng, tức 74,4 triệu đồng/năm (Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15).
Ví dụ giả định: một sinh viên chỉ làm cộng tác viên, dự kiến cả năm nhận khoảng 60 triệu đồng, không có thu nhập nào khác — thuộc diện được cam kết. Ngược lại, một nhân viên đang có lương ở công ty khác, nhận thêm thù lao viết bài — không được cam kết, vì không phải “duy nhất”, dù tổng thu nhập thấp.
Người làm cam kết chịu trách nhiệm về nội dung cam kết. Tổ chức nhận cam kết cần lưu bản gốc và không nhận cam kết khi biết rõ người đó có thu nhập khác.
Kê khai và quyết toán ở phía tổ chức trả thu nhập
Số thuế đã khấu trừ được khai trên tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng hoặc quý, cùng kỳ với kỳ khai thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp. Hạn khai theo Luật Quản lý thuế: tháng — ngày 20 tháng sau; quý — ngày cuối cùng tháng đầu quý sau.
Cuối năm, trong hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của tổ chức, liệt kê tất cả cá nhân đã nhận thu nhập, kể cả người có cam kết và người nhận dưới 2 triệu đồng mỗi lần. Hạn quyết toán năm của tổ chức là ngày cuối cùng tháng thứ 3 sau năm tài chính. Kiểm tra văn bản mới nếu có thay đổi về mẫu biểu, kỳ khai.
Nên có một sổ theo dõi riêng cho các khoản trả cá nhân không ký hợp đồng lao động: tên, số định danh, ngày trả, số tiền, số đã khấu trừ, có cam kết hay không. Cuối năm chỉ việc lọc ra để lập phụ lục quyết toán, không phải lục lại từng phiếu chi.
Chỉ cần trong năm có trả thu nhập là phải quyết toán, kể cả khi không khấu trừ đồng nào. Đây là việc hay bị bỏ qua ở công ty nhỏ.
Chứng từ khấu trừ và quyền của người nhận
Khi đã khấu trừ, tổ chức cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho người nhận, hiện nay chủ yếu dưới dạng điện tử theo quy định về hoá đơn, chứng từ điện tử (Nghị định 254/2026/NĐ-CP, Thông tư 91/2026/TT-BTC). Chứng từ có thể cấp cho từng lần khấu trừ hoặc một chứng từ cho nhiều lần trong năm theo hướng dẫn hiện hành.
Người đã bị khấu trừ 10% mà thu nhập cả năm sau giảm trừ chưa đến mức nộp thuế có thể tự quyết toán để được hoàn phần đã khấu trừ. Hạn cá nhân tự quyết toán là ngày cuối cùng tháng thứ 4 sau năm tính thuế. Chứng từ khấu trừ là căn cứ chính của hồ sơ hoàn.
Những lỗi khiến doanh nghiệp phải nộp thay, và tự kiểm tra ở đâu
| Lỗi | Hậu quả |
|---|---|
| Trả qua tài khoản cá nhân của kế toán, không đi qua sổ | Không khấu trừ, không kê khai; bị truy thu khi đối chiếu |
| Nhận cam kết của người có thu nhập khác | Tổ chức có thể bị yêu cầu giải trình, người cam kết chịu trách nhiệm |
| Khấu trừ nhưng không kê khai, không nộp | Chiếm dụng tiền thuế, hậu quả nặng |
| Không quyết toán vì “không ai phải nộp” | Vi phạm nghĩa vụ quyết toán |
| Hợp đồng lao động 3 tháng trở lên nhưng vẫn khấu trừ 10% | Sai cách tính, người lao động thiệt phần giảm trừ gia cảnh |
Nơi tự kiểm tra: sổ chi phí lọc các khoản trả cho cá nhân; tài khoản thuế điện tử xem tờ khai khấu trừ các kỳ; kho hồ sơ xem bản cam kết có đủ chữ ký, thông tin định danh chưa. Người nhận thu nhập có thể tự xem khoản thu nhập đã được kê khai cho mình trên ứng dụng thuế trên điện thoại.
Câu hỏi thường gặp
Cộng tác viên có hộ kinh doanh thì có phải khấu trừ 10% không?
Nếu cộng tác viên có đăng ký hộ kinh doanh, tự khai thuế và xuất hoá đơn cho dịch vụ đó thì khoản trả là mua dịch vụ của hộ kinh doanh, không khấu trừ 10%. Cần hoá đơn của hộ làm chứng từ chi phí.
Người nhận không cung cấp số định danh cá nhân thì sao?
Vẫn phải khấu trừ theo quy định. Tuy vậy thiếu thông tin định danh thì khó kê khai và người nhận khó tự quyết toán, xin hoàn. Nên yêu cầu thông tin định danh trước khi ký hợp đồng.
Hợp đồng dịch vụ 4 tháng thì khấu trừ 10% hay theo biểu luỹ tiến?
Khấu trừ theo biểu luỹ tiến áp dụng cho hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên. Hợp đồng dịch vụ không phải hợp đồng lao động, nên thường khấu trừ 10% với khoản trả từ 2 triệu đồng mỗi lần. Bản chất hợp đồng quyết định, không phải tên gọi.
Người đã làm cam kết mà cuối năm thu nhập vượt thì ai chịu?
Người cam kết chịu trách nhiệm về cam kết của mình và phải tự quyết toán, nộp phần thuế còn thiếu. Tổ chức đã nhận cam kết hợp lệ và kê khai đầy đủ trong quyết toán thì đã làm đúng phần mình.
Trả thù lao cho người nước ngoài làm việc ngắn ngày thì sao?
Cá nhân không cư trú có cách khấu trừ riêng, khác với mức 10% của cá nhân cư trú. Cần xác định tình trạng cư trú trước khi trả và đối chiếu văn bản hướng dẫn hiện hành, cả hiệp định tránh đánh thuế hai lần nếu có.
Trả thu nhập bằng hiện vật, như quà hoặc phiếu mua hàng, có phải khấu trừ không?
Thu nhập bằng hiện vật vẫn là thu nhập, được quy ra tiền theo giá trị để xác định mức trả và số khấu trừ. Nếu giá trị mỗi lần từ 2 triệu đồng thì thuộc diện khấu trừ như trả bằng tiền.
Doanh nghiệp chịu thuế thay cho cộng tác viên có được không?
Được, nếu hợp đồng ghi thu nhập là số thực nhận (không gồm thuế). Khi đó phải quy đổi ra thu nhập trước thuế để tính số khấu trừ, và kê khai theo thu nhập đã quy đổi. Tính thẳng 10% trên số thực nhận là tính thiếu.